
Ngưng thở khi ngủ là một rối loạn khiến người bệnh có những cơn ngưng thở hoàn toàn khi ngủ, lặp đi lặp lại nhiều lần trong đêm. Ngưng thở khi ngủ được chia làm ba loại: ngưng thở tắc nghẽn (OSA), ngưng thở trung ương (CSA) và ngưng thở hỗn hợp (MSA).
Ngưng thở tắc nghẽn tăng gấp 4 lần ở nam giới và gấp 7 lần ở người béo phì (BMI > 30). Do đó OSA nặng làm tăng nguy cơ tử vong ở nam giới trung niên. OSA bao gồm các giai đoạn đóng lại một phần hoặc toàn bộ đường thở trên trong lúc ngủ, dẫn đến ngừng thở (thời kỳ ngưng thở > 10 giây) do lưỡi to, các mô ở thành sau họng quá to, bất thường của xương hàm...
Yếu tố nguy cơ giải phẫu cho ngưng thở tắc nghẽn bao gồm:
Các yếu tố nguy cơ khác: tình trạng sau mãn kinh, lão hóa, sử dụng rượu hoặc thuốc an thần. Tiền sử gia đình mắc OSA chiếm 25%-40% các trường hợp, nguy cơ tỷ lệ thuận với số người trong gia đình mắc bệnh.
Các dấu hiệu nghi ngờ hội chứng ngừng thở khi ngủ:
Nếu có dấu hiệu nghi ngờ, người bệnh nên đi khám tại các phòng khám chuyên khoa để được tư vấn. Bác sĩ có thể tiến hành thăm dò sâu hơn về giấc ngủ, cụ thể là đo đa ký giấc ngủ:
Cách chữa trị: có nhiều phương pháp và có thể cần hội chẩn với bác sĩ chuyên khoa khác (Tai Mũi Họng, Tim mạch, Thần kinh, Nội tiết...) để phối hợp cho hiệu quả tốt nhất:
Hầu hết các trường hợp chưa được chẩn đoán và điều trị thường liên quan đến tăng huyết áp, rung nhĩ và các rối loạn nhịp tim khác, suy tim, chấn thương hoặc tử vong do tai nạn giao thông và các tai nạn khác do buồn ngủ quá mức.
Ngưng thở khi ngủ do nguyên nhân trung ương (CSA): não không gửi được những tín hiệu thích hợp để điều khiển cơ hô hấp khi người bệnh bị tổn thương não hoặc có bệnh lý thần kinh, dẫn đến mất cân bằng tại trung tâm điều khiển hô hấp trong lúc ngủ. Ngoài ra còn có ngưng thở khi ngủ kiểu hỗn hợp (MSA) - kết hợp cả nguyên nhân trung ương và tắc nghẽn.